Khô nhái đồng vũ nữ chân dài

Khô nhái đồng vũ nữ chân dài Chuyên sản xuất và phân phối sỉ, lẻ khô nhái đồng vũ nữ chân dài, đặc sản miền Tây.

Tôi sinh ra ở miền Bắc – nơi rau muống, mồng tơi, cải ngọt là chuyện cơm ngày ba bữa.Vậy mà khi vào miền Tây, tôi bỗng t...
08/11/2025

Tôi sinh ra ở miền Bắc – nơi rau muống, mồng tơi, cải ngọt là chuyện cơm ngày ba bữa.
Vậy mà khi vào miền Tây, tôi bỗng thấy mình như đứa trẻ lần đầu được biết các loại rau "Lạ".
Rau miền Tây rất đa dạng, Cái hồn rau giản dị, mà ăn vào nghe thương đến lạ.
1, Bông điên điển – sắc vàng của mùa nước nổi:
Ngày đầu thấy bông điên điển, tôi cứ tưởng hoa dại. Ai ngờ người miền Tây hái về nấu lẩu mắm, xào tép, ăn sống…
Một nắm hoa nhỏ, mà mùi thơm như nắng đầu mùa.
Họ nói: “Bông này chỉ nở khi nước về”, nghe mà thấy thương — cái thứ rau cũng biết chờ mùa như người đợi lũ mang phù sa.
2, Bông súng, năn bộp, bồn bồn – những cái tên chỉ miền Tây mới có
Cọng bông súng giòn tan, nhúng lẩu lên nghe “rốp rốp” như tiếng cười sông nước.
Còn năn bộp, bồn bồn – những cái tên tôi chẳng từng nghe ở Bắc – ăn vào giòn mát, chua dịu, gợi cái mộc mạc của người nông dân chân bùn tay lấm.
3,Rau đắng, sầu đâu – những vị chẳng chìu ai
Tôi rất ngại đắng. Vậy mà ăn miếng rau đắng, nhai kỹ, lại thấy hậu ngọt nơi cổ.
Ăn sầu đâu, đắng đến nhăn mặt, nhưng chấm cá sặc nướng, chan mỡ hành – trời ơi, vị đắng hóa thành vị nhớ. sầu đâu (hay xoan sầu đâu, xoan ăn gỏi) có vị rất đắng đặc trưng, Tuy nhiên, điều làm nên sự thú vị và hấp dẫn của sầu đâu lại nằm ở chính cái vị đắng đó và cái hậu ngọt sau khi nuốt.
4, Rau tập tàng – gom hết thương nhớ trong một nồi canh. Món canh rau tập tàng nấu với tôm đất – nhìn qua tưởng đơn sơ, mà húp một muỗng, nghe vị ngọt lan khắp lòng. Đó là sự hòa quyện của đủ thứ rau vườn – rau sam, rau dền, rau má, lá lốt, đọt nhãn lồng…
Không món nào riêng rẽ, chỉ khi “gom lại” mới thành một thứ vị duy nhất – vị quê.
Miền Tây – đất của những thứ rau biết yêu người :
Miền Tây, rau là một phần ký ức, là tiếng nói của đất. Người miền Tây hái rau bằng tay, nhưng nấu bằng tình. Họ không cân, không đong – chỉ lấy “vừa đủ thương”. Và khi tôi rời miền sông nước ấy, Tôi nhớ mãi rổ rau tập tàng, một nồi canh nghi ngút khói.
và nụ cười của người má 3 nói nhỏ:
“Ăn đi cậu, rau vườn tui hái sáng nay đó.”
Đinh Đức Đoàn

Ngày xưa dân Nam Bộ ăn như thế nào- Sơn NamVài người bạn cho rằng ở Nam Bộ có một dạng “văn minh ẩm thực" Thời xưa khác ...
26/05/2025

Ngày xưa dân Nam Bộ ăn như thế nào
- Sơn Nam

Vài người bạn cho rằng ở Nam Bộ có một dạng “văn minh ẩm thực" Thời xưa khác với thời nay. Ngày nay, vi sinh kể thúc bách, giới lao động có xu hướng ăn những món vừa gọn, vừa no, ít tốn kém, gọi là “thực phẩm chế biến" khá đa dạng, đỡ tốn than củi, dầu hội. Lắm gia đình ăn ở chật hẹp, khó bố trí được cái bếp, thỉnh thoảng mới dùng đến, khi thêm món ăn nào đó mà ở hiệu ăn bình dân pha chế không vừa miệng. Văn hóa vẫn dựa trên cơ sở vật chất: tìm những vật tư với giá bình dẫn nào cũng có, cần nhất là món tươi cho ra tươi, khô cho ra khô. Nhiều người than phiền rằng món ăn ngày nay nhằm chán, dùng nhiều bột ngọt, món mặn cũng lẫn vi ngọt, lại hội mùi dầu ăn (dầu thảo mộc thay cho mỡ heo). Gả công nghiệp, vịt siêu thịt, toàn những giống ngoại nhập. cũng như thịt heo: heo cộng nghiệp không ngon bằng heo ta. Nhưng gà ta, vịt ta khó kiếm, bán giá cao, nuôi chậm lớn. Lại còn chê bai hương vị rau cải ngày nay. chẳng ra làm sao cả. Toàn là u-rễ, trái bầu, trái dưa leo, trái dưa hấu lạt lẽo, ăn nhiều dễ sinh bệnh vi hóa chất (?)

Thời xưa, dân trung lưu ở Sài Gòn và các tỉnh ăn như thế nào?

Xin dẫn một đoạn đăng trên báo Đồng Nai, năm 1932. Bấy giờ bãi bảo thủ để nghị một toa ăn kiểu toa thuốc, chưa định chữ mơ này (menu) là thực đơn. Cách đây hơn 60 năm, thực đơn ấy như sau:

- Lót lỏng: Cháo trắng ăn với một món, trong vài món sau đây. Ăn với cả kho chiên lại, hoặc thêm chút nước rồi kho cho sắt lại. Hoặc ăn với tôm khô chiên củ hành, hoặc cá lóc chà bông, củ cải ngâm nước mắm. - Cơm trưa: Canh chua bạc hà. Cả nướng (cá sông hay cá biển). Đỗ lòng heo xào củ hành, với bún tàu (miền). Rau luộc (đạt đến hay đọt lang). Thịt kho nước. dừa.

- Cơm chiều: Canh thịt nấu cải bẹ, thịt kho nước dừa (hối trưa chửa lại), dưa cải hoặc đưa giá, cá sặc hoặc cá rõ muối sương rồi chiến, cua xào dầm.

Ăn mãi như thế thì nhảm, có thể trở bữa. Thí dụ như sáng ăn cháo đậu với cả lúc kho tiêu, cháo đậu nước cốt dừa. Hoặc cơm tầm với sườn heo nướng. Bữa trưa, ăn canh bầu nấu với cả trê vàng, thịt bò xào rau cần, cá lóc kho với thơm (dứa) xắt mỏng, đầu trái thơm thi luộc, xắt mỏng ăn với cá kho, hoặc canh khoai mỡ, khoai từ. Hoặc canh chua nếu với trái thơm, mắm kho ăn với rau muống, ghém, rau sống và nhiều ớt, hoặc canh cá phản, cả vược kho ngót. Buổi chiều cách thủy, mẫm phải bẩm trộn vào trứng vịt. Bắp chuỗi hột hoặc cả đĩa (cả trái ngăn và tròn) để sống ăn với mắm chưng, canh khổ qua hầm thit.

Ngẫm lại, các món ăn được đề nghị trên đây, xưa hơn 60 năm vẫn còn định hình. Buổi ấy, món ăn khá tươm tất, pha chế công phu.

Ở thành thị hoặc thôn quê, người mẹ và con gái rảnh rang, không bận rộn làm thêm như bây giờ. Ngày xưa, mướn người phụ việc gia đình dễ dàng hơn ngày nay.

Ta thấy món mắm kho, nay được đề cao, trở thành lẩu mắm. “Lẩu” tức là “lỗ” nói theo giọng Quảng Đông; mắm kho được đun sôi. Dễ hấp dẫn và bảo đảm vệ sinh. Món canh chua cá kho xuất hiện. Đã thấy món cơm tấm, bấy giờ, người dân bình thường vẫn có thể ăn gạo ngon (chưa có giống lúa công nghiệp năng suất cao thời dân số đông đúc ngày nay). Tấm của gạo ngon nấu khô, không nhão, quan trọng nhất vẫn là nước mắm ngon. Người Việt Nam ăn cơm băng đũa, không dùng nĩa và dao, cơm đựng trong bát. Đây là mô phỏng kiểu ăn của người Âu, dùng dĩa, muỗng, nĩa nhưng tuyệt đối ta không dùng dao. Phải chăng heo, gà đã bị giết, cắt ra từng miếng, khi được ăn lại cắt lần thứ nhì, thứ ba là “bất nhơn”. Ăn mà cầm dao thì gần như là vô phép đối với người bên cạnh.

Ngoài món ăn hàng ngày, người Nam Bộ rất trần trọng món để dâng cúng ông bà, thần thánh. Món để cúng trên nguyên tắc, chỉ là bốn, giống như ở đồng bằng sông Hồng. Ngoài Bắc, có giò, nem, ninh, mọc, trong Nam có món hầm (ninh), thường là giò heo hầm với măng tre mạnh tông, loại măng to, ít đẳng, mạnh tông gợi ý nghĩa hiếu thảo qua truyện Mạnh Tông mằm giá khóc măng trong Nhị Thập Tứ Hiếu. Thêm món thịt ba chỉ luộc, xắt mỏng (thịt phay), món thịt kho với cá, với nước dừa. Và món xào, đại khái thịt heo xào cải, xào hẹ.

Thời xưa với thần thánh và tổ tiên không có lệ cúng món ăn tráng miệng như người Tây phương, vả lại, trái cây và bánh đã dâng lên bàn thờ trước khi dọn mâm cỗ. Không được cúng rượu Tây, phải là rượu để cổ truyền, ông cha ta không biết rượu Tây. Gần như tuyệt đối không cúng những món thịt rừng, hoang dã. Mâm cỗ có dọn hàng chục món, nhưng chủ lực phải đủ 4 món.

Ngày nay, nhiều cửa hàng đặc san mọc lên, gọi nôm na là quán nhậu. “Nhậu”, theo Tự vị của Huỳnh Tịnh Của in năm 1895 nghĩa là “uống”. Tự vị nói trên còn nêu ví dụ: nhậu nước, là uống nước. Trên nguyên tắc, mời bạn đi nhậu thì chỉ nhằm vào một món đặc sản là tri âm tri kỷ đều ưa thích. Nhậu thì uống rượu nhiều, nói năng lắm khi lung tung, vì vậy tổ chức nơi riêng biệt, thí dụ như ngoài vườn, không cho trẻ con lân la, e chúng nó nhiễm tật xấu. Mời bạn ra sau nhà, ngoài vườn để thưởng thức, ví dụ như thịt chuột rô - ti kiểu Tây, hoặc rùa, rắn, ếch.

Ăn lẫn lộn đôi ba món thì mất hương vị. Hoặc toàn là cua, tôm, chim trời, cá lóc nướng. Về phương diện này, nét hoang dã hiện rõ rệt ở phía Nam. Đó là dấu ấn của thời nhà cửa chưa an cư, chưa rảnh rang để chăn nuôi gia súc, trồng rau cải. Bơi xuồng vào rừng, phá rừng, trọng tâm là dọn mảnh đất để làm ruộng nước. Bởi vậy, gặp đâu ăn đó, ăn cá nướng thay cơm; ăn rùa, ăn lươn, những thức ăn mà thiên nhiên ban bố cho, không phải nuôi. Thay cho rau cải, cứ bút đọt cây, đọt cỏ, món gì chua chua, chát chát là cứ ăn, nào đọt cây bần, trái bần chín, đọt ổi, đọt xoài, rau dừa, bông súng, ngó sen, đọt vừng, đọt chiếc... Những món ăn hoang dã ấy gẫm lại khá ngon, nhiều hương vị không gì sánh kịp. Đó là ký ức tập thể, lưu truyền đến thế hệ sau. Ở Sài Gòn, cái lẩu mắm với hơn 10 thứ rau rừng, vẫn hấp dẫn được người có ô tô, nhà lầu. Lại bày bò tùng xẻo, lẩu cá bóng kèo, trông thô sơ, nhưng thịt gà thịt vịt không sánh bằng. “Thú quê thuần hức bén mùi (Nguyễn Du). Thời xưa, bên Trung Hoa, vị quan to nọ chán chê danh lợi, bỗng dưng nhớ đến rau và cá của chốn quê nhà, bèn treo ấn từ quan.

PHÁT ÂM CỦA NGƯỜI MIỀN NAM THÂN YÊU Có những phương ngữ rất đặc trưng của vùng:Nếu bạn hỏi người Long An: "Năm nay lúa m...
05/04/2025

PHÁT ÂM CỦA NGƯỜI MIỀN NAM THÂN YÊU

Có những phương ngữ rất đặc trưng của vùng:
Nếu bạn hỏi người Long An:
"Năm nay lúa má sao anh?”
Long An trả lời:
"Hằng hà".
Còn người Vĩnh Long sẽ trả lời:
"Nhóc luôn".

Người dân ở dây cũng lãng mạn lắm, gọi nước lên xuống ngày 2 lần bằng mấy chục từ diễn tả, như:
- Nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương, nước đổ, nước ngập, nước nổi, nước quay, nước lụt, nước giựt, nước rút, nước chảy, nước trôi, nước nhảy, nước bò…

Khúc sông bên lở bên bồi
Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm.
Nước ròng còn chia ra:
- Nước ròng cạn, nước ròng sát, nước ròng rặc, nước ròng kiệt; hay còn gọi tắt là nước cạn, nước sát, nước rặc, nước kiệt…
Thời điểm nước đứng gọi là:
"Nước nhửn”.
Nước lớn rồi lại nước ròng,
Đố ai bắt được con còng trong hang.

Người miền Bắc và Miền Trung gọi thuyền hay đò thì ở miền Nam gọi ghe và chia ra hàng chục loại:
- Ghe chài, ghe đục, ghe be, ghe bầu, ghe cui, ghe cửa, ghe giàn, ghe lồng, ghe lườn, ghe ngo, ghe tam bản…
Ghe bầu trở lái về đông
Làm thân con gái theo chồng nuôi con.

Người miền Nam viết không sai chính tả nhưng trong văn nói có nhiều đặc trưng của vùng, gọi là phát âm sai nếu theo lý thuyết chữ quốc ngữ.

Phát âm phụ âm cuối không phân biệt “n” và “ng”, “c” và “t”, "y”và “I”.
Ví dụ:
- Cục than thành cục thang, liên thành liêng, lan thành lang, mái và máy, lụt và lục, mát và mác, thước và thướt...

Phát âm “ê” thành “i”.
- Chẳng hạn cơm nếp, cái đệm thành cơm níp, cái địm. “ươ” thành “ơ”; trái mướp thành trái mớp, ăn cướp thành ăn cớp, đám cưới thành đám cứi, tức cười thành tức cừi

Phụ âm “r” “g”, như rau răm thành gau găm, cá rô thành cá gô.
Phụ âm “r” thành “d”.
Ví dụ: rau răm thành dao dăm, cá rô thành cá dô.

Vùng Gò Công cũ (Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây, thị xã Gò Công [tỉnh Tiền Giang], và Cần Đước, Cần Giuộc [tỉnh Long An]), ở trong quê sâu có cách phát âm “ng” thành “qu”.
Ví dụ:
- Ông ngoại thành ông quại.
Thành ra nói kêu "ông quại" cho toàn Nam Kỳ là không trúng.

Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh có cách phát âm “th” thành “kh”.
Ví dụ:
- Cái thùng thành cái kh.ù/ng.

Dân Bến Tre (trừ Chợ Lách và Bình Đại) đọc phụ âm “tr” thành “t”.
Ví dụ:
- Cây tre, cây trúc thành cây te, cây túc; Bến Tre thành Bến Te; Ba Tri thành Ba Ti; Giồng Trôm thành Giồng Tôm.
Chợ Ba Ti thiếu gì cá biển
Anh thương nàng anh nguyện về đây

Dinh Phong NguyenHộp xốp thực phẩm . Phần bổ sung sau các phần nhựa thực phẩm và đồ chiên nướng gây ung thư, không thể k...
28/03/2025

Dinh Phong Nguyen

Hộp xốp thực phẩm . Phần bổ sung sau các phần nhựa thực phẩm và đồ chiên nướng gây ung thư, không thể không nhắc đến hộp này, ở Phương Tây và cả Trung Quốc đã cấm dùng rồi nhưng Việt Nam vẫn vô tư. Hiệp hội đóng gói thức ăn quốc tế (IFPA) ở Hong Kong công bố thông tin, một nửa số hộp cơm (xốp, nhựa, giấy...) tại Trung Quốc chứa một lượng lớn bột khoáng có thành phần gây ung thư. Trung Quốc cũng vừa ra quyết định cấm bán và sử dụng hộp thức ăn bằng xốp vì chúng có thể làm từ đồ phế thải.

Khi đựng đồ nóng, hàm lượng monostyren (một chất độc) trong loại nhựa này giải phóng ra càng nhiều sẽ gây tổn hại đến gan, cũng như nhiều bệnh khác. Không chỉ nhiệt độ cao, loại nhựa này khi gặp dầu mỡ, muối mặn, axít... sẽ gây độc tố hại cho con người.
Bên cạnh đó, trong quá trình gia công, ngoài nhựa PS, nhà sản xuất còn kèm các chất phụ gia và chất độn khác. Người tiêu dùng không thể biết chắc nhà sản xuất độn chất gì khi gia công, thực tế không ít nơi vì mục đích lợi nhuận, cũng như trình độ chuyên môn kém, nhà sản xuất đã sử dụng nhựa phế liệu hoặc tỷ lệ từng chất không phù hợp dẫn đến sản phẩm có độc tố cao, gây nguy hiểm cho người sử dụng, nhìn chung trong các chất thường tồn tại một số kim loại nặng, là độc tố ảnh hưởng đến con người.

Xốp Styrofoam có nguyên liệu thô là polystyrene, viết tắt là PS, một hợp chất hóa học có nguồn gốc từ dầu mỏ. Nó được sản xuất từ styrene, một chất lỏng không màu dễ bay hơi. Polystiren phân tử thấp nên nó chỉ được dùng để đựng thức ăn nguội, thức ăn nóng là điều tối kỵ. Vì nhiệt từ thức ăn nóng sẽ khiến loại nhựa này giải phóng ra chất độc monostyren, ngấm vào thức ăn rất hại cho gan. Khi Styrofoam tiếp xúc với nhiệt độ cao (trên 100°C, đặc biệt khi đựng thức ăn nóng, dầu mỡ hoặc hâm nóng bằng lò vi sóng), styrene và các chất phụ gia khác có thể bị thôi nhiễm vào thực phẩm. Quá trình này diễn ra mạnh hơn nếu thực phẩm có chất béo cao, như đồ chiên, cà phê nóng, hay súp.

Ngoài ra, nhựa làm hộp xốp trong quá trình chế biến thường tồn dư lượng nhỏ hoạt chất siren. Nếu gặp đồ ăn nóng trên 70 độ C, nhiều dầu mỡ hoặc có tính axit như giấm, nước chanh, chất siren sẽ bám vào thức ăn, có thể gây ung thư nếu đi vào cơ thể. Trên thế giới, một số nước như Mỹ, Singapore, Thái Lan đã cấm sản xuất loại nhựa trên làm vật liệu đựng thực phẩm.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phơi nhiễm styrene lâu dài có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm:
• Nguy cơ ung thư: Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) của WHO xếp styrene vào nhóm “có thể gây ung thư ở người” (Nhóm 2B) do các nghiên cứu trên động vật cho thấy nó có thể gây ung thư máu và ung thư bạch cầu.
• Rối loạn nội tiết: Styrene có thể ảnh hưởng đến hoạt động của estrogen, làm rối loạn nội tiết tố.
• Ảnh hưởng đến hệ thần kinh: Phơi nhiễm lâu dài có thể gây suy giảm trí nhớ, mất tập trung, lo âu và trầm cảm.
• Tổn thương gan, thận: Cơ thể xử lý styrene qua gan và thận, tiếp xúc lâu dài có thể làm suy giảm chức năng của các cơ quan này.

Các lưu ý khi sử dụng hộp xốp dùng một lần

1. Không đựng thức ăn ở nhiệt độ quá cao, đặc biệt là thức ăn vừa mới lấy ra khỏi chảo; thức ăn có nhiều mỡ, nước sôi.

2. Không tái sử dụng, không bảo quản thực phẩm lâu ngày, nhất là thực phẩm có nhiều dầu, mỡ.

3. Nếu đựng thức ăn thừa trong hộp cơm dùng một lần thì không cho vào tủ lạnh. Sau khi về nhà nên đựng thức ăn trong hộp thủy tinh hoặc gốm sứ.

4. Không ăn súp, nước dùng, cà phê, đồ ăn chiên đựng trong hộp xốp dùng một lần.

5. Không hâm nóng những hộp xốp không được đánh dấu là có thể hâm nóng được trong lò vi sóng cũng như không thể dùng để hấp đồ ăn.

6. Nên ưu tiên dùng các loại cạp lồng, hộp đựng thức ăn được sản xuất từ những vật liệu an toàn hơn để đựng thức ăn như hộp thủy tinh, thép không gỉ, gốm hoặc nhựa an toàn thực phẩm (loại có ký hiệu PP - Polypropylene, mã số 5).

Nguyễn Gia Việt Tân An là đất của xứ Vũng Gù xưa, tiếng Khmer gọi là Kompon Kou tức là bến sông có nhiều bò. Từ Vũng Gù ...
26/03/2025

Nguyễn Gia Việt

Tân An là đất của xứ Vũng Gù xưa, tiếng Khmer gọi là Kompon Kou tức là bến sông có nhiều bò. Từ Vũng Gù qua tới Tân An. Địa danh Tân An 新安 (an ổn, mới mẻ) xuất hiện từ năm 1779 khi chúa Nguyễn Ánh chiếm lại thành Gia Ðịnh từ tay Tây Sơn.

Phủ Tân An và phủ Tây Ninh ngày xưa đều thuộc tỉnh Phiên An Gia Định.

Phủ Tân An gồm hai huyện Phước Lộc và Cửu An là phần đất phía tây và phía nam thành Gia Định. Pháp qua lập tỉnh Tân An và tỉnh Chợ Lớn từ đất của phủ Tân An.

Năm 1836 quan bảo hộ Cao Miên mà lúc đó gọi là Trấn Tây Thành Trương Minh Giảng tấu lên vua Minh Mạng xin cắt lấy một phần đất phía tây bắc tỉnh Gia Định giáp với Cao Miên vốn thuộc phủ Tân Bình làm một phủ mới gọi là phủ Tây Ninh.

Phủ Tây Ninh là phần đất rừng rậm, nằm trên con đường thiên lý từ thành Gia Định qua Nam Vang của Trấn Tây Thành có hai huyện trực thuộc bên dưới đó là Tây Ninh và Quang Hóa.

Tây Ninh huyện là đất toàn tỉnh Tây Ninh ngày nay, còn huyện Quang Hóa một phần thì đã bị Pháp cắt trả cho Cao Miên, là đất khúc sâu vô tỉnh Long An của tỉnh Svey Rieng ngày nay.

Tây Ninh là gì? 西 Tây là hướng Tây Bắc thành Gia Định, là Trấn Tây Thành, chữ 寧 Ninh là an ổn, an ninh. 西寧 Tây Ninh có nghĩa là xứ phía tây an ninh. Bên Tàu cũng có Tây Ninh, một thành phố vùng người Tạng của tỉnh Thanh Hải.

Người Nam Kỳ mặc định đất tâm linh là xứ phải gần biên giới xa xôi, có sông lớn,có núi cao và có cốt thần thánh bổn địa. Châu Đốc gần Bảy Núi, có núi Sam, có sông Hậu, có Bà Chúa Xứ, sát biên giới Miên.

Đất Tây Ninh được coi là đất miên viễn, biên thành, ở nơi thâm sơn cùng cốc gần biên giới xứ Miên. Tây Ninh có núi Bà Đen linh thiêng, có Bà Đen quyền phép, có thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông, rừng rậm thú dữ. Tây Ninh cũng như Châu Đốc đóng vai 2 cái nôi tâm linh hành hương của người Nam Kỳ.

Tây Ninh có cái nổi tiếng nhứt là nắng cháy da. Nắng Tây Ninh rất hỗn, nóng cháy da, đất Tây Ninh rất nóng, hơi nóng từ đất lan ra không khí rất khó chịu. Nhiều bài nhạc đã nhắc đặc sản này:

“Tây Ninh nắng nung người, mà trận địa thì loang máu tươi” (Trên bốn vùng chiến thuật-Trúc Phương)

“Giờ này anh ở đâu?
Tây Ninh tiếp ứng biên thành”
(Giờ này anh ở đâu-Khánh Băng)

Còn chữ Long An nè!

Có một tỉnh lại mang âm Hán Việt, tỉnh Long An lập ra khi sáp nhập tỉnh Tân An và ¾ đất đai của tỉnh Chợ Lớn. Sắc lịnh số 143 – NV ngày 22. 10. 1956 của TT Ngô Đình Diệm lập tỉnh Long An gồm toàn bộ tỉnh Tân An và 3/4 tỉnh Chợ Lớn.

Long An là gì?

• 隆 Long: đầy đủ, hưng thạnh, thạnh vượng.
• 安 An: an ổn, an toàn

Trong “Tân An xưa” ông Đào Văn Hội hờn oán ông Diệm vụ bất chợt moi đâu ra chữ Long An:

“Tân An đã có trong bản đồ Nam Kỳ gần ba trăm năm nay, thì dầu ai có oai lực kinh thiên động địa làm sao cũng không thể một sớm một chiều làm cho Tân An đương nhiên mất tích.”

Trong Hán tự, chữ 安 An là an bình, là bình an, là không bị bất trắc. Người Miền Nam hay đặt tên vùng của mình là An Hoà, An Bình, An Đông, An Thới, Thới An, An Nhơn, An Hội....

Còn Long thạnh vượng thì nhiều vô kể. Tên Vĩnh Long có từ năm 1832 khi vua Minh Mạng lấy cái tên địa phương Vãng Luông biến đổi ra Hán tự. Tỉnh Vĩnh Long 永隆. Chữ Long này là thạnh vượng chứ không phải là rồng. Vĩnh Long 永隆 là lâu dài hưng thịnh.

Vậy nên nếu có nhập tỉnh, thì chiết tự Long An và Tây Ninh ra mà đặt. Đề nghị cái tên: Tây An.

Còn nếu giữ tên một tỉnh thì để chữ Long An chung hai tỉnh, vì hai thành phố tên hai phủ cũ còn đó, Tp Tân An và Tp Tây Ninh.

Nếu sáp nhập Long An và Tây Ninh sẽ thành cái nôi tâm linh ở Miền Đông.

Long An có hai dòng Vàm Cỏ. Hai con sông ở sát Sài Gòn đã tạo ra một đồng bằng nhỏ và vùng văn hóa riêng ,nó hiên ngang với Đồng Nai và Cửu Long, tạo ra một tiểu quốc đồng bằng lúa gạo thơm tho nổi tiếng không lẫn lộn.

Pháp viết là Vaico Oriental (Vàm Cỏ Đông) và Vaico Occidental (Vàm Cỏ. Tây).

Sông Vàm Cỏ Tây từ Đồng Tháp Mười rợp hương tràm (cầu Tân An) và Vàm Cỏ Đông từ Tây Ninh chảy xuống (cầu Bến Lức) gặp nhau tại một ngã ba hòa thành Vàm Cỏ là ranh giới giữa Cần Đước và Tân Trụ kêu là ngã ba Bần Qùy.

"Bần de bần ngã bần quỳ
Sống mà chịu cảnh chia ly thêm buồn."

Tương truyền sau khi thành Vĩnh Long bị Pháp lấy mất, năm 1867 Quan Phan Thanh Giản uống á phiện với dấm thanh tự quyên sinh chết, những cây bần ven sông Vàm Cỏ cúi rạp người xuống hết vì đau thương. Các giai thoại này dân Long An kể lại có hơi mơ hồ, nhưng cũng đủ biết lòng dân Nam Kỳ thương quan Phan đến cỡ nào.

Ngày nay ở đó còn cái miễu ông Bần Qùy, ghe thương hồ đi ngang hay vào đốt nhang (Là miếu thờ ông Mai Công Hương). Có dịp đi ngang Nhựt Ninh Tân Trụ, tranh thủ chụp vài tấm hình tại miếu này ở cái doi đất.

Vàm Cỏ lòng vòng uốn éo rồi trổ ra sông Soi Rạp, cách biển Đông 20 km. Khúc sông này là ranh giới giữa Long An và Tiền Giang, Cần Đước và Gò Công.

Sông Vàm Cỏ tạo ra đồng bằng hai bên sông, sản vật gồm cá tôm rất nhiều, nổi tiếng là cá chìa vôi, cá út, cá phèn, cá lù đù, gạo nàng thơm Chợ Đào danh giá.

Sông Vàm Cỏ đọan cầu Mỹ Lợi có tên là vàm Bao Ngược.

“Anh đi ghe lúa Gò Công
Vô vàm Bao Ngược, bị giông đứt buồm.”

Ngã ba Bần Qùy, từ đây con sông gọi chung là sông Vàm Cỏ, nhiều người gọi là sông Bao Ngược, Pháp kêu là Grand Vaico.

Trăng rằm trên sông Vàm Cỏ đẹp nao lòng, nó tròn mà lạnh lùng rất diễm lệ, có dịp mời bạn đi coi thử!

"Đi trên sông Vàm một đêm trăng rằm
Mái chèo khua nhẹ tựa sóng vỗ lòng anh
Mê say em hát, mắt sáng long lanh
Mà cả dòng sông là hương lúa ngọt lành"

"Khẽ nhắm mắt
Vàm Cỏ ơi!
Sông đó
Quê nhà
Khẽ nhắm mắt
Nghe lời ru rất lặng
Sông nghiêng đi, nước lớn lên rồi
Thương bìm bịp khản tiếng kêu lầy lội
Thương mảnh trời thơ ấu theo sông trôi!"

Tại Nam Kỳ ta có hai con sông tôn giáo được nhìn rất kỳ lạ là Cửu Long và Vàm Cỏ. Vàm Cỏ lại là nôi Cao Đài.

Những người tạo ra đạo này như ông Ngô Minh Chiêu, Phạm Công Tắc đều sanh sống ở Tân An, có thể nói là dân Long An.

Thánh địa tòa thánh Cao Đài ở Tây Ninh cũng nằm sát sông Vàm Cỏ Đông.

Long An là tỉnh có thánh thất Cao Đài nhiều nhứt lục tỉnh. Sông Vàm Cỏ và mấy con kinh của nó chảy len vô xóm làng tới đâu thì thánh thất Cao Đài mọc lên tới đó.

Tân An –làng Bình Lập cũng là nơi người sáng lập đạo Cao Đài,ông phủ Ngô Văn Chiêu sống lâu và gắn bó như quê nhà. Ngày 18 tháng 4 năm 1932, khi thấy yếu trong người và muốn mất ở quê nhà làng Bình Lập Tân An nên ông cùng người con gái và một số môn đệ gấp rút đi xe từ Cần Thơ về nhà ở Tân An. Khi xe qua bắc Mỹ Thuận và đang giữa dòng sông thì ông qua đời vào 3 giờ chiều.

Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Cao Đài Tây Ninh cũng sanh ra ở làng Bình Lập. QGT Lê Văn Trung cũng dân Long An. Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa là người lãnh đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh từ năm 1976 - 1987 trong giai đoạn "rất khó khăn" và sau khi mất có cái kết cuộc thực sự "buồn lòng" cho những ai hiểu về lịch sử cũng là người Long An.

Trong lịch sử Cao Đài Tây Ninh có một nhân vật mà mỗi khi nhắc tới thảy đều thấy buồn, đó là ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa (1899 - 1987).

Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa là một chức sắc Thiên phong thuộc thập nhị thời quân Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Ngài Bảo Đạo sanh cũng ở Tân An, tốt nghiệp ĐH Luật Hà Nội thời Pháp, mang hàm đốc phủ sứ, làm tới chức tỉnh trưởng Châu Đốc, khi vào Cao Đài mang phẩm Bảo Đạo thuộc thập nhị thời quân, là người tin cậy của Đức Hộ Pháp.

Đức Ngô Minh Chiêu là một nhân vật có một vị trí đặc biệt quan trọng trong Đạo Cao Đài. Ngài đã mở đầu kỷ nguyên Cao Đài trên đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Đức Ngô Minh Chiêu có thể gọi là Giáo Chủ Cao Đài, là người đầu tiên đưa ra một lý thuyết về Cao Đài.

Khi Cao Đài lập giáo năm 1926 thì Đức Ngô Minh Chiêu từ chối ngôi giáo tông vì không thống nhứt cách lập giáo,giáo lý với phe ông Lê Văn Trung, Phạm Công Tắc. Ông phủ Chiêu chủ trương tu "Nội giáo tâm truyền" tức tu bên trong, hạn chế nghi lễ và thâu nạp tín đồ. Còn phe ông Lê Văn Trung, Phạm Công Tắc thuộc "Ngoại giáo công truyền" ngược lại ông Ngô Minh Chiêu.

Ông đốc phủ sứ Ngô Minh Chiêu về Cần Thơ cất cái am nhỏ trong nghĩa địa tu tập, ông không dính dáng Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Nhóm tín đồ theo pháp môn của ông được ông đặt tên là Chiếu Minh, một cách gọi láy trệch đi tên của ông. Đó là Cao Đài Chiếu Minh. Cách thờ phụng của Cao Đài Chiếu Minh khác với Cao Đài Tây Ninh.

Vì sao đạo Cao Đài chọn Tây Ninh làm thánh địa?

Các ông phủ, ông huyện người tạo ra Cao Đài vốn là cựu học sinh trường Collège Chasseloup-Laubat nên có tầm nhìn rất xa.

Ông Phạm Công Tắc vốn là người quê Tân An nhưng nhà ở Tây Ninh, các ông Cao Quỳnh Cư, Cao Quỳnh Diêu, Cao Hoài Sang đều là dân Tây Ninh.

Trong cơ lịnh, người Cao Đài nói Đức Chí Tôn chỉ định Thánh Địa tại tỉnh Tây Ninh làm nguồn gốc của Đạo, gọi Tòa Thánh Tây Ninh là Tổ Đình.

Tuy nhiên ta sẽ nhìn ra yếu tố con người ban đầu trong đó.

Tây Ninh có núi Bà Đen là một trong 2 nơi gọi là thiêng trong tâm linh dân gian Nam Kỳ Lục Tỉnh (Nơi kia là Châu Đốc,Bảy Núi là tổng hành dinh của Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, PG Hòa Hảo.)

Các ông khi làm lễ khai đạo họ đem về chùa Gò Kén Tây Ninh làm ngày 19-11-1926, nhưng vì bị vị huề thượng chùa sau đó đòi chùa nên họ phải đi kiếm đất mới mà mua.

“Từ Chùa Gò Kén đổ đường
Băng rừng lướt bụi đêm trường bình yên”.

Tây Ninh lúc đó hoang vu ít người ở, toàn rừng già, rừng chồi, đất rẻ rề.

Sài Gòn thì đất rất mắc, đạo mới còn nghèo thì tiền đâu mua đất. Tây Ninh lại là đất phù sa cổ rất cứng, cất các công trình khỏi tốn tiền làm móng nhà.

Như vậy tha hồ cho các ông phủ, ông huyện xẻ đường xây công trình Tòa Thánh của Cao Đài theo kiểu Vatican.

Họ chọn mua một miếng đất rừng non 50 mẫu, sau đó mua từ từ ra 100 mẫu ở vị trí tọa lạc tại làng Long Thành, tỉnh Tây Ninh tức khu Tòa Thánh ngày nay với giá chưa tới 20.000 đồng bạc Đông Dương.

Tòa Thánh được khởi công xây dựng từ năm 1931 hoàn thành vào năm 1947 và được khánh thành 1-2-1955. Ngày khánh thành tưng bừng, có chừng 950.000 tín đồ về dự lễ và trên 120.000 quan khách cùng tham dự,trong đó có Thủ Tướng chánh quyền Quốc Gia Ngô Ðình Diệm.

Xây nhiều năm, có khi phải ngừng vì không có tiền và điều kiện chánh trị, lịch sử không thuận lợi .

“Tỉnh Tây Ninh nào thua Tây Trúc
Ngôi Tổ Đình cao vút mấy trùng
Châu vi rộng rãi vô cùng
Đất non trăm mẫu riêng vùng Nội Ô.”

Tương truyền Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc kể khổ rằng:

"Việc khai phá rừng già không phải là việc dễ. Nhơn công phải đương đầu với muôn ngàn nỗi gian lao khổ ải. Khó chịu nhứt là bệnh sốt rét rừng, chói nước. Chư tín hữu người Việt ở lục tỉnh lên làm công quả không chịu nổi với trận giặc rét này. Công quả được ít ngày thì các vị ấy lần lượt xin về hết. Nếu tình thế ấy cứ tiếp tục thì không biết khi nào mới khai phá xong khu rừng.”

Nói chung Tòa Thánh Tây Ninh là thành quả rất gian khổ của toàn thể người Cao Đài Tây Ninh. Các ông chức sắc mày mò vẻ họa đồ,xẻ đường, tín đồ cứ mò từ từ mà xây lên, không có kiến trúc sư, có tiền nhiều xây nhiều, cạn tiền thì ngừng lợi, chừng nào quyên được xây tiếp. Không có tiền công trả người xây, toàn là công đức của tín đồ.

Tòa Thánh nhìn về hướng tây,đuôi Tòa Thánh nằm gối vào hướng đông xa xa là núi Bà Đen linh thiêng.

Tòa Thánh khánh thành 1/2/1955 thì ngày ngày 5 tháng 10 năm 1955 Đức Hộ Pháp bị chính một tướng Cao Đài theo Quốc Gia là Nguyễn Thành Phương đem quân bản bộ bao vây siết chặt nội ô Tòa Thánh Tây Ninh, bao vây Hộ Pháp Đường và giam lỏng Ðức Hộ Pháp.Ngày ngày 16 tháng 2 năm 1956, lúc 3 giờ sáng, Hộ Pháp Phạm Công Tắc phải lên xe rời Tòa Thánh chạy qua Nam Vang tị nạn.

Đó là “Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách.”

Trớ trêu thay! Tây Ninh sát Miên. Đức Hộ Pháp mất vào năm 1959 tại thánh thất Kim Biên Nam Vang. Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc thiên về một nhà tu hành, về chánh trị có chỗ ông còn mù mờ, phân vân, không mạnh tay, thành ra Cao Đài có lúc nhìn như rối loạn.

Quận Cần Giuộc Long An cũng là cái nôi lập đạo Cao Đài.

Đức Giáo Tông Cao Đài Bến Tre Nguyễn Ngọc Tương nhập đạo khi làm quận trưởng Cần Giuộc. Đạo dần dần mở rộng như vết dầu loang, từ quận Cần Giuộc đến Rạch Kiến, Rạch Đào, Rạch Núi, Gò Đen, Cần Đước trong tỉnh Chợ Lớn, rồi qua tỉnh Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre.

Toà Thánh Cao Đài Bến Tre đặt ở Bến Tre, tuy nhiên số thánh thất của Cao Đài Bến Tre ở khu vực Cần Giuộc và Cần Đước Long An nhiều vô số, chức sắc có gốc dân hai huyện này cũng nhiều.

Long An không phải là tỉnh có đặt tòa thánh của một chi phái Cao Đài nào, nhưng lại là tỉnh có số thánh sở Cao Đài nhiều nhứt nước. Tổng số là 122 thánh sở, gồm có CĐ Bến Tre (66), CĐ Tây Ninh (38), Tiên Thiên Châu Minh (11), Chơn Lý (5), tại Long Hựu Cần Đước có Đàn Chiếu Minh rất lớn.

Hình: Vàm Cỏ chụp từ cầu Mỹ Lợi.

BẠCH TUỘT ĐỐM XANH - MỘT TRONG NHỮNG SINH VẬT BIỂN CÓ CHẤT Đ.Ộ.C NHẤT Người bán lẫn người mua nên kiểm tra thật kỹ trước...
26/03/2025

BẠCH TUỘT ĐỐM XANH - MỘT TRONG NHỮNG SINH VẬT BIỂN CÓ CHẤT Đ.Ộ.C NHẤT

Người bán lẫn người mua nên kiểm tra thật kỹ trước khi đem ra thị trường.
Bởi vì:

Bạch tuộc đốm xanh là một trong những loại bạch tuộc độc nhất, dễ dàng nhận biết với những đốm xanh bên ngoài da. Chúng thường ăn động vật nhỏ như: cua, tôm, và các loại giáp xác khác.

Bạch tuộc đốm xanh được xem là sinh vật biển đ.ộ.c nhất thế giới.
Kích thước của bạch tuộc đốm xanh tương đối nhỏ và bản tính hiền lành nhưng nếu bị đe dọa thì chúng có thể là mối nguy hại đối với con người, do trong nọc đ.ộ.c của loài bạch tuộc này có chứa chất đ.ộ.c thần kinh tetrodotoxin vô cùng mạnh.

Chất độc của bạch tuộc đốm xanh vẫn có thể tồn tại ở nhiệt độ cao hay đã c.h.ế.t.
Chất tetrodotoxin chủ yếu có trong nước bọt của bạch tuộc, đồng thời còn có ở các phần mềm khác ở thân. 25g nọc đ.ộ,c của loài bạch tuộc này có thể g.i.ế.t c.h.ế.t 10 người nặng trên 70kg.

Màu sắc của bạch tuộc đốm xanh có thể thay đổi nhờ vào sự ánh sáng của mặt trời hay do độ sâu của nước. Màu sắc của chúng sẽ trở nên sặc sỡ khi bị kích động hay chuẩn bị tấn công.

Nếu ăn phải thịt bạch tuộc đốm xanh thì sau khoảng 30 phút đến 3 giờ đồng hồ sau khi ăn sẽ xuất hiện các triệu chứng như khó chịu, mặt đỏ, đồng tử co rồi giãn ra, buồn nôn, tiêu chảy, chân tay mỏi rũ, thậm chí có người còn thấy rét run, đầu ngón chân, ngón tay tê dại.
Còn qua đường da thì chỉ sau từ 1 - 5 phút, thậm chí gây t.ử v.o.n.g chỉ sau 10 - 20 phút.

Hiện nay, vẫn chưa có thuốc để điều trị trường hợp bị bạch tuộc đốm xanh cắn. Chính vì vậy, tốt nhất mọi người không nên tiếp xúc với bạch tuộc đốm xanh, cũng như không sử dụng các món ăn được chế biến từ loài bạch tuộc này

Nguyễn Gia Việt Thương người miệt dưới!Trong bài thơ dài “Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca”, trong phần tỉnh Rạch Giá, ...
14/03/2025

Nguyễn Gia Việt

Thương người miệt dưới!

Trong bài thơ dài “Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca”, trong phần tỉnh Rạch Giá, Nguyễn Liên Phong có nhắc tới miệt thứ qua mấy câu thơ:

“Thứ Năm, thứ Sáu, thứ Ba
Thứ Tư, thứ Nhứt, với là thứ Hai
Bảy, Tám, Chín, Mười quá dài
Tên mười cửa biển đi hoài vòng nong
Nhà dân rải rác cũng đông
Giáp Bạc Liêu hạt minh mông biển rừng.”

Nhìn như ông đếm số, nhưng ông đang điểm danh tên các xứ, đó là Miệt Thứ mà chúng ta hay nói.

Miệt Thứ là tên ghép từ hai từ Miệt và Thứ. Chữ miệt là một chữ đặc biệt của người Nam Kỳ chúng ta.

Miệt có nghĩa là gì? là cái xứ ở xa xa, ở phía trong. Trung tâm văn minh là Sài Gòn, từ Sài Gòn trổ xuống là miệt hết, trổ lên cũng miệt luôn. Thí dụ miệt Lái Thiêu, miệt Thủ Dầu, miệt Biên Hòa, miệt Tân An, miệt Mỹ Tho, miệt Cái Mơn, miệt Cao Lãnh, miệt Long Xuyên, miệt Rạch Giá, miệt Thới Bình ...

Nền văn minh tiến bộ của Nam Kỳ kêu là văn minh miệt vườn, chữ “miệt” có từ xưa rồi.

Thủ Dầu Một là từ Thủ Dầu Miệt mà ra, sử Nguyễn đã ghi rành rành là Thủ Dầu Miệt (hay Dầu Một) tức là miệt có cái đồn lính bên cây dầu lớn hay chung quanh có nhiều cây dầu khác.

“Ta ăn tô cháo cá bống kèo, rau đắng
Và bỗng dưng sực nhớ miệt vườn
Con rạch nào tuổi thơ ta tắm
Mé sau hè rau đắng mọc xanh um”.

Miền Tây có miệt vườn thì ở khắp Lục Tỉnh cũng có vô số cái miệt khác. Câu ca dao xưa "Trai Hai Huyện, gái miệt vườn". Chữ "hai huyện" là hai huyện Phước Long và Tân Bình mà trong đó có Thủ Dầu Miệt.

Hỏi chuyện một bạn trẻ như vầy:

-Em ở đây lênvậy??
-Miệt dưới anh ơi! Tri Tôn, Tịnh Biên, Bảy Núi, xa mút chỉ cà tha.

Miệt Châu Đốc, miệt Năm Căn ,miệt Trà Ôn ….Miệt U Minh rừng tràm minh mông, đi xấc bấc xang bang, nắng táp đen thùi lùi tía má nhìn không ra, tối muỗi kêu như sáo, nó chích con trâu cũng la làng.

Đó là miệt thứ, những con kinh toàn đánh số, đó là miệt Cạnh Đền, miệt Tắc Cậu, miệt Thị Tường, miệt Bảy Háp…

Thường miệt hay sát một con sông hay con kinh, rạch nào đó:

"Em yêu anh nên đành xa xứ,
Xuôi ghe chèo miệt thứ Cà Mau."

Thứ là sao? Thứ chỉ đếm từ thứ hai cho đến thứ mười. Nhà đẻ con nhiều thì kêu thứ, người Miền Nam kêu thứ, từ Cô Hai, Cô Ba, Cô Sáu tới Cô Út, Cô Mười .. Có nhà 12 đứa con thì kêu là Cô Mười Hai.

Ông Nguyễn Liên Phong tả mười conr ạch thứ mà ông ghi muốn xỉu. Thực tế có nhiều hơn thứ mười.

Nhà văn Sơn Nam viết:

“Đó là vùng "Lâm Sác", vùng Thập Câu, giới bình dân gọi nôm na đó là Miệt Thứ, là ven U Minh. Thập Câu là mười con rạch mang tên là rạch thứ Nhứt, rạch Thứ Hai... rạch thứ Mười chảy song song từ vùng đất thấp U Minh Thượng ra biển, gọi là “thập” nhưng trong thực tế hơn mười con rạch. Người địa phương lần hồi khai thác và khám phá thêm, thí dụ như rạch thứ chín rưỡi (giữa rạch thứ Chín và thứ Mười) hoặc rạch Xẻo Vẹt, Xẻo Ngát, Chà Và giả, Chà Và thiệt, rạch Ổ Heo, rạch Nằm Bếp, rạch Kim Quy...”

Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có nói về xứ Thập Câu.

Còn nhớ, nhắc lại các bạn sẽ nhới, hồi năm 2022 bạn kia viết một tut lên án chữ miệt như sau:

"Tôi không biết thằng ngu nào chế ra cái cụm từ "văn minh miệt vườn" nhưng đối với dânMmiền Tây mà dùng chữ "miệt" là một cách mỉa mai. Miệt có nghĩa là xa mịt mù khỏi chân trời, là vùng đất dã man không có văn minh tiến bộ." (??)

Một vấn đề, trên tinh thần dân chủ và cởi mở kiểu Nam Kỳ thì có thể có ý này ý khác, quan điểm của người này người kia, của anh của chị khác nhau. Nhưng đừng mạt sát kiểu như vậy.

Lỗi của người nói, trình độ hết sức hạn chế, không biết rõ, không chịu đọc sách, hoặc đọc không hiểu rồi nói "thằng ngu nào" đó nói vậy.

Ông bà Miền Nam đã nói chữ miệt mấy trăm năm nay. Sơn Nam có cuốn “Văn minh miệt vườn”. Nói hớ nặng, cho chữ "miệt" là chỉ dân ở vùng "dã man" nhưng sao lại nói, không ai nhận mình là người ở vùng "dã man" đâu.

Nói miệt vườn miệt ruộng, đồng bái không có gì là xấu, mỉa mai hay miệt thị gì hết. Chữ miệt cũng không có nghĩa là "vùng đất dã man" hay "xa mịt mù khỏi chân trời".

Những người hiểu văn hóa Miền Nam và đọc sách nhiều sẽ hiểu điều đó.

Tại Nam Kỳ Lục Tỉnh mình không có chữ nào chỉ là nơi là vùng đất "dã man" hết. Hiểu chữ "dã man" là gì không? "Dã man" là chỉ người chưa khai hóa, ăn lông ở lỗ và có bản năng tàn sát dữ dội.

Người Miền Nam mình chưa bao giờ coi bà con cô bác mình là "dã man" hay "vùng đất dã man" dù họ ở trong vùng sâu ,trong bưng, trong biền.

Hồi xưa vua Minh Mạng vốn là một Nho sanh thuần thành nên ông đặt ra “Nam Kỳ lục tỉnh” mà cũng có vần điệu. Lục tỉnh có tên dựa theo 6 từ cuối của một câu thơ cổ: Khoái mã gia biên vĩnh định an hà (Phóng ngựa ra roi giữ an non nước).

Khoái mã nghĩa là giục, thúc cho con ngựa chạy mau mau. Thành ngữ cổ có câu “Khoái mã gia tiên”(快馬加鞭) tức dùng roi quánh mạnh thúc con ngựa chạy nhanh.

“Nhìn đoàn khoái mã song le
Hai bên là lính, cổ xe đỏ hồng”.

"Khoái mã gia biên vĩnh định an hà" mà ta có 6 tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên.

Chữ lục tỉnh nó hay mà chơn chất lắm, lục tỉnh sau này không hiểu vì sao chỉ là ám chỉ Miền Tây.

Chẳng biết lúc nào có chữ “Miền” trong Miền Đông và Miền Tây. Nhưng trước đó ông bà ta có một chữ thực cực kỳ mùi để chỉ đất đai xứ sở đó là Miệt.

"Cần Thơ là cảnh
Cao Lãnh là quê
Anh đi khỏi xứ Tào Khê
Thoát vòng lao lý đâu dè gặp em."

Chủ nhơn xứ miệt gồm ba dân tộc: Việt, Minh Hương và Thổ Khmer.

"Em là gái Chắc Cà Đao
Xứ quê xa lắm anh nào có hay
Thương anh còn một chút này
Gửi thuyền cho bến, gửi mây cho trời
Gặp đây là chút tình thôi
Cõng nhau đi trọn kiếp đời mai sau".

Cùng phong tục, cùng ẩm thực, cùng tiếng nói, cùng quyền lợi xứ sổ, tất cả đều là dân Lục Tỉnh.

Cái tình Lục Tỉnh mà! sao lại không thương nhau? Thương chết giấc!

Address

Tinh Bien

Opening Hours

Monday 08:30 - 22:00
Tuesday 08:30 - 22:00
Wednesday 08:30 - 22:00
Thursday 08:30 - 22:00
Friday 08:30 - 22:00
Saturday 08:30 - 22:00
Sunday 08:30 - 22:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Khô nhái đồng vũ nữ chân dài posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share